Hệ thống quan trắc không khí ứng dụng công nghệ LoRa chi phí thấp, tự chủ năng lượng, phù hợp triển khai mật độ cao tại Việt Nam.
Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có chất lượng không khí kém nhất thế giới. Tại các đô thị lớn, nồng độ bụi mịn PM2.5 thường xuyên vượt ngưỡng an toàn của WHO nhiều lần, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Hậu quả ngày càng nghiêm trọng khi tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa gia tăng.
Ô nhiễm không khí gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng:
Cả nước chỉ có 92 trạm quan trắc không khí tự động, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn. Các tỉnh lẻ, vùng nông thôn gần như không có dữ liệu.
Người dân không biết chất lượng không khí nơi mình sống.
Không cảnh báo kịp thời khi ô nhiễm tăng đột biến.
Khó triển khai ở vùng sâu, vùng xa.
Nhiều vụ việc làm sai lệch kết quả quan trắc đã bị phát hiện.
Các trạm tập trung chủ yếu ở đồng bằng và đô thị lớn, thưa thớt ở vùng núi và nông thôn.
Nguồn: Trung tâm Quan trắc môi trường — Cục Môi trường
Hệ thống quan trắc không khí ứng dụng công nghệ LoRa, hướng tới mở rộng độ phủ dữ liệu môi trường tới các khu vực chưa có trạm đo.
Pin mặt trời + pin sạc, hoạt động 24/7 không cần điện lưới.
Công nghệ LoRa 920MHz, khoảng cách 2–5km, xuyên địa hình.
1 người lắp đặt trong 30 phút, không cần cấu hình phức tạp.
Cập nhật mỗi 7 phút, cảnh báo tức thời khi vượt ngưỡng.
1 gateway nhận được nhiều trạm, dễ dàng mở rộng mạng lưới.
Dữ liệu công khai trên web, ai cũng xem được.
Trạm đo các thông số chất lượng không khí quan trọng
Bụi PM2.5 là vật chất dạng hạt trôi nổi trong không khí với đường kính bằng 2.5 micromet hoặc nhỏ hơn...
Bụi PM10 là vật chất dạng hạt lơ lửng trong không khí với đường kính khoảng 10 micromet hoặc nhỏ hơn...
Ozone (O₃) là khí được hình thành bởi bức xạ cực tím mặt trời (ánh sáng mặt trời) và các phân tử oxi...
Công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, hộ gia đình và các nguồn tự nhiên gây ô nhiễm không khí...
Trong 62 triệu người tử vong mỗi năm (2021), ô nhiễm không khí là yếu tố nguy cơ đứng thứ 2 toàn cầu.
| # | Yếu tố rủi ro | Tử vong |
|---|---|---|
| 1 | Huyết áp cao | 11.0M |
| 2 | Ô nhiễm không khí (ngoài trời & trong nhà) | 7.90M |
| 3 | Hút thuốc | 5.81M |
| 4 | Đường huyết cao | 5.34M |
| 5 | Ô nhiễm hạt vật chất ngoài trời | 4.92M |
| 6 | Béo phì | 3.68M |
| 7 | Cholesterol cao | 3.62M |
| 8 | Ô nhiễm không khí trong nhà | 2.76M |
| 9 | Chế độ ăn ít trái cây | 1.76M |
| 10 | Chế độ ăn nhiều natri | 1.67M |
| 11 | Khói thuốc lá gián tiếp | 1.66M |
| 12 | Trẻ sơ sinh nhẹ cân | 1.38M |
| 13 | Sử dụng rượu | 1.29M |
| 14 | Chế độ ăn ít ngũ cốc nguyên hạt | 1.19M |
| 15 | Quan hệ tình dục không an toàn | 1.07M |
| 16 | Chế độ ăn ít rau | 933K |
| 17 | Chế độ ăn ít các loại hạt | 884K |
| 18 | Nguồn nước không an toàn | 755K |
| 19 | Ít vận động thể chất | 670K |
| 20 | Suy dinh dưỡng ở trẻ em | 585K |
| 21 | Vệ sinh không an toàn | 534K |
| 22 | Sử dụng ma túy | 492K |
| 23 | Mật độ khoáng xương thấp | 483K |
| 24 | Không có phương tiện rửa tay | 416K |
| 25 | Trẻ em thấp còi | 373K |
| # | Yếu tố rủi ro | Tử vong |
|---|---|---|
| 1 | Huyết áp cao | 145.000 |
| 2 | Ô nhiễm không khí (ngoài trời & trong nhà) | 94.800 |
| 3 | Hút thuốc | 84.600 |
| 4 | Ô nhiễm hạt vật chất ngoài trời | 57.600 |
| 5 | Đường huyết cao | 48.400 |
| 6 | Ô nhiễm không khí trong nhà | 36.100 |
| 7 | Cholesterol cao | 34.300 |
| 8 | Chế độ ăn nhiều natri | 27.900 |
| 9 | Sử dụng rượu | 26.800 |
| 10 | Khói thuốc lá gián tiếp | 25.500 |
| 11 | Chế độ ăn ít trái cây | 20.300 |
| 12 | Béo phì | 19.900 |
| 13 | Chế độ ăn ít ngũ cốc nguyên hạt | 18.400 |
| 14 | Sử dụng ma túy | 11.200 |
| 15 | Chế độ ăn ít rau | 10.100 |
| 16 | Quan hệ tình dục không an toàn | 10.100 |
| 17 | Mật độ khoáng xương thấp | 9.840 |
| 18 | Chế độ ăn ít các loại hạt | 5.610 |
| 19 | Ít vận động thể chất | 4.430 |
| 20 | Trẻ sơ sinh nhẹ cân | 4.040 |
| 21 | Nguồn nước không an toàn | 1.200 |
| 22 | Không có phương tiện rửa tay | 958 |
| 23 | Vệ sinh không an toàn | 705 |
| 24 | Suy dinh dưỡng ở trẻ em | 664 |
| 25 | Trẻ em thấp còi | 514 |
Nguồn: IHME, Global Burden of Disease
Tăng các trường hợp hen suyễn và viêm phế quản.
Tiếp xúc lâu dài có thể làm suy yếu sự phát triển của phổi.
Tác động tiềm tàng đến sự phát triển não bộ và thành tích học tập.
Nguồn: EEA (European Environment Agency)